LỜI NGỎ
GÓC ẢNH
- Trường cũ - Bạn xưa
- Các Giáo Sư
- Chân dung xưa & nay
- Các cuộc hội ngộ
GÓC KÝ ỨC
- Nội San:
Ký ức Sao Biển 1999
Tâm tư Sao Biển 2000
TTSB 2001
TTSB 2002
TTSB 2003
TTSB 2004
TTSB Xuân 2005
TTSB Hè 2005
TTSB 2006
TTSB 2007
- Hội Ngộ Sao Biển 2008
- Vườn Tư Tưởng
- Vườn Kỷ Niệm
- Vườn Thơ
- Vườn Nhạc
- Nghe nhạc Sao Biển
GÓC SUY TƯ
- Suy tư theo mùa Phụng Vụ
- Tản mạn Kinh Thánh
- Chia sẻ
GÓC TIN TỨC
- Tin tức Sao Biển
- Diễn đàn Sao Biển
GÓC NỘI BỘ
- Góp ý & Bài vở
- Sinh hoạt nội bộ
SUY TƯ & CHIA SẺ
Xảy ra cách nào?

Lc 1:26-38

Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a. Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà." Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Sứ thần liền nói: "Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận."

Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng! "

Sứ thần đáp: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được."

Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói." Rồi sứ thần từ biệt ra đi.



Nhân bài Tin Mừng ngày Lễ Mẹ Vô Nhiễm, cũng là bài Tin Mừng ngày Chúa Nhật thứ tư Mùa Vọng năm nay, chúng ta “dài hơi cả tiếng” một chút.

Câu trả lời của Mẹ Maria là một “locus theologicus” nổi tiếng. Chúng ta nên dừng lại khai triển. Vì tuỳ theo cách hiểu câu này, chúng ta có thể hiểu đúng hay sai sự việc Mẹ Maria đồng trinh sinh con.


1-

Mẹ thưa với sứ thần: "How can this be, since I have no relations with a man? -Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng! - Comment cela sera-t-il, puisque je ne connais pas d'homme ? - Quomodo fiet istud quoniam virum non cognosco ? - Pos estai touto epei andra hou ginosco” (Lc 1:34) .

“Tôi không biết đàn ông” đồng nghĩa với “Tôi là trinh nữ - I am a virgin – Tôi không ăn ở với đàn ông” Chữ “biết” của người Do thái và Hy lạp còn mang nghĩa “ăn ở vợ chồng – giao hợp”.


2-

Câu trả lời của Mẹ Maria nêu lên một vấn đề. Tại sao Mẹ lại nhấn mạnh đến sự kiện mình đang là trinh nữ, nếu như việc thụ thai được Mẹ hiểu là chắc chắn sẽ xảy ra ?

Nhiều nhà chú giải mới đây cho rằng – và đây là một ý kiến sai - đó chỉ là thủ thuật văn chương của Luca để nhấn mạnh tình trạng trinh nữ của Mẹ Maria mà thôi. Rất có thể rằng Mẹ Maria đã hiểu sai thời gian tính của tin được truyền cho Mẹ. Dường như Mẹ nghĩ rằng chuyện thụ thai, như lời sứ thần loan báo, sẽ xảy ra trong một tương lai gần .

Nhiều lối cắt nghĩa khác, mang tính cách thánh thiện hơn là chuyên môn, cũng không thoả đáng. Nhất là ý kiến bình dân cho rằng Mẹ Maria đã “khấn giữ mình đồng trinh trọn đời”, và cuộc hôn nhân với thánh Giuse chỉ là “cho có”, bề ngoài, xảy ra đúng lúc và thích hợp, để đuổi xa những “kẻ rắp ranh bắn sẻ” khác !

Một chuyện như thế không hề có nền tảng trong bản văn Tin Mừng. Thật tội nghiệp cho Thánh Giuse phải đóng vai “chồng hờ”, Mẹ Maria lại mang tiếng không “thành thực trong hôn nhân”. Vả lại chuyện “ở vậy trọn đời” hoàn toàn không tương hợp với não trạng và lối sống trong xã hội Do thái lúc bấy giờ . Không chồng và không con là một đại hoạ đối với phụ nữ Do thái.

Và lời “khấn giữ mình đồng trinh” trong thế kỷ thứ nhất là chắc chắn “lạc thời - anachronism” [xem ghi chú 1]


3-

Vậy chúng ta hỏi lại: ý Mẹ muốn gì khi nói câu 1:34 ?

Mẹ “đưa ra vấn nạn” dựa trên “tình trạng hiện đang là trinh nữ” của mình.

Thánh Luca đã hai lần nhấn mạnh đến điểm ấy: “trinh nữ” ở câu 1:27 : “Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét,gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.”

Nhấn mạnh hai lần, nghĩa là Luca muốn nói rằng chi tiết ấy rất cần để hiểu toàn bộ câu chuyện sau này.

Có thêm những lý do khác để cho rằng Mẹ nêu lên vấn nạn - là tình trạng trinh nữ của mình - vì hầu chắc Mẹ cho rằng sự việc mà sứ thần truyền tin, xét theo phương diện thể lý lúc bấy giờ là “không thể”.


a- Lý do thứ nhất là việc truyền tin cho Mẹ rất gần và rất “song đối với việc truyền tin cho cụ Giacaria, kể lại ngay trước đó , 1:5-25. Cụ Giacaria đã đưa ra vấn nạn cũng dựa trên sự bất khả xét về phưong diện thể lý : hai cụ đã “cao niên” mà lại “son sẻ” .

b- Lý do thứ hai, sứ thần đã đem tình trạng của cụ Elisabeth ra so sánh với Mẹ Maria ở câu 1:36 : “Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng”. Nghĩa là sứ thần chỉ đem ra so sánh khi cả hai người đều có cùng một tình trạng chung là bất khả về thể lý: một vì cao niên son sẻ, một vì đang trong tình trạng trinh nữ.

c- Cuối cùng vì sứ thần nói câu 1:37: “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” Ngài nói điều này ra rõ ràng chỉ để đáp lại vấn nạn về tình trạng bất khả thể lý – đang là trinh nữ mà sinh con.


4-

Suy thêm một bước nữa, chúng ta có thể hỏi: Cả khi mình hiện đang là trinh nữ, tại sao Mẹ Maria lại đưa ra vấn nạn này ? Tại sao Mẹ không nghĩ rằng rồi ra, một vài tháng nữa, hết thời gian đính hôn, mình sẽ về sống chung với Giuse, chắc chắn mình sẽ sinh con ?

Và đây mới là lý do để chúng ta phải dùng đúng chữ “đính hôn” như trong nguyên bản Tin Mừng (betrothed – une vierge fiancée à un homme) Chứ nếu dựa trên văn hóa và thói tục Việt Nam để có thể dùng chữ “thành hôn” như Cha Nhân đã trả lời trong bài đã đăng trước đây, thì sẽ giải thích làm sao cho thoả đáng câu hỏi của Mẹ “Vì tôi không biết đến việc vợ chồng?”

Đã “cho” hai người “thành hôn” với nhau rồi mà, người vợ lại nói “không biết việc vợ chồng” thì quả là bất bình thường ! Và không lý giải được tại sao Mẹ Maria lại “ngạc nhiên đưa ra vấn nạn” chỗ này ?


Vậy nhắc lại, nếu Mẹ Maria nghĩ chuyện mình thụ thai như đã loan báo đây, rồi sẽ xảy ra sau này, sau thời gian đính hôn, hay trong thời chung sống, thì chuyện sinh con với chồng là chuyện bình thường, đương nhiên, đâu có gì là đáng phải hỏi nữa !

Vì thế ta có thể kết luận Mẹ hỏi, Mẹ nêu vấn nạn, chỉ vì Mẹ nghĩ rằng chuyện thụ thai như lời sứ thần loan báo, XẢY RA NGAY LẬP TỨC LÚC ẤY, trước khi Mẹ “biết” Giuse.


5-

Có người còn du di cho rằng chuyện thụ thai không xảy ra ngay lúc truyền tin mà trong khoảng thời gian từ lúc truyền tin cho đến lúc Mẹ lên đường đi thăm bà chị họ Elisabeth. Vì khi hai chị em gặp nhau, Mẹ Maria đã có thai. Cụ Elisabeth đã chào Mẹ : “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc” (Lc 1:42)


Nhưng có nhiều lý do cho chúng ta thấy khó, hay không thể du di như thế. Vì từ lúc truyền tin cho đến lúc Mẹ đi thăm cụ Elisabeth là bao lâu ? Chính bản văn Tin Mừng cho ta hai chi tiết thú vị :

a- Thứ nhất, ở câu 1:39-40; “Ma-ri-a vội vãlên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa. Bà vào nhà ông Da-ca-ri-a và chào hỏi bà Ê-li-sa-bét.” Ngay sau truyền tin, Maria “vội vã – with haste” .

b- Thứ hai : Khi Mẹ Maria được truyền tin, thì cụ Elisabeth đã có thai được sáu tháng: “nay đã có thai được sáu tháng” (Lc 1:36) . Mẹ đến thăm cụ và ở lại đó “ở lại với bà Ê-li-sa-bét độ ba tháng, rồi trở về nhà.” (Lc 1:56) Thế là chín tháng. Khi bé Gioan sinh ra, thì Mẹ không còn ở đó.

Cho dù giả thiết đây trường hợp mang thai mười tháng chăng nữa, thì khoảng thời gian giữa lúc Truyền tin cho đến lúc gặp Elisabeth quả là khít khao, eo hẹp, khó mà đủ thời gian cho việc Giuse đem Maria về nhà chung sống với nhau ! Lại càng khó cho một người đàn ông nào khác xen vào câu chuyện ! Tin Mừng không hề nhắc tới bất cứ người đàn ông nào, kể cả Giuse, trong khoảng thời gian này !

Vậy hợp lý nhất là Mẹ Maria hiểu chuyện thụ thai như sứ thần mới truyền tin đây xảy ra lập tức lúc ấy, nên Mẹ mới vấn nạn “Việc ấy xảy ra thế nào bây giờ, vì tôi không biết chuyện vợ chồng ?” [xem thêm ghi chú 2]

Vả lại trong mọi cuộc truyền tin sinh con trong Cựu Ước, thì việc thụ thai đã xảy ra rồi, hay xảy ra liền sau lúc ấy, chứ không hề có vụ vào mãi sau mới xảy ra, như những trường hợp sau :

Stk 16:11 : “Sứ thần của ĐỨC CHÚA nói với Haga: "Này đây ngươi đang có thai, sắp sinh hạ con trai và sẽ đặt tên là Ít-ma-ên”.

Is 7;14 “Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en.”

1Sam 1:19 : “Bà Anna khấn hứa rằng: "Lạy ĐỨC CHÚA các đạo binh, nếu Ngài đoái nhìn đến nỗi khổ cực của nữ tỳ Ngài đây, nếu Ngài nhớ đến con và không quên nữ tỳ Ngài, nếu Ngài cho nữ tỳ Ngài một mụn con trai, thì con sẽ dâng nó cho ĐỨC CHÚA mọi ngày đời nó, và dao cạo sẽ không đụng tới đầu nó.".... Sáng hôm sau, họ dậy sớm và sụp lạy trước nhan ĐỨC CHÚA, rồi trở về nhà ở Ra-ma. Ông En-ca-na ăn ở với bà An-na, vợ mình, và ĐỨC CHÚA đã nhớ đến bà. Ngày qua tháng lại, bà An-na thụ thai.”


Thời gian đính hôn kéo dài một năm, nếu Mẹ Maria hiểu mình sẽ có con với Giuse, và nếu sứ thần muốn báo tin hai người có con với nhau, hẳn sứ thần sẽ chờ sau khi hai người về sống chung mới tới mà truyền tin, thì mới hợp lý. Chứ chẳng lẽ bây giờ sứ thần tới mà báo tin: “Này cô, chừng sáu hay tám tháng nữa cô sẽ có con !” Maria hẳn biết mình sẽ có con với ai, thì có vấn nạn nào nữa mà hỏi: “Sự ấy xảy ra thế nào?"


6-

Cuối cùng câu giải thích của sứ thần chỉ có nghĩa lý khi nhằm giải thích Maria sẽ thụ thai như thế nào bất chấp tình trạng đồng trinh.

Điều này dựa vào hai lẽ:

a- Thứ nhất sứ thần không phạt Maria vì đã nêu lên vấn nạn, như đã phạt cụ Giacaria.

Hai cuộc truyền tin được kể liền nhau, Và hai câu vấn nạn của hai người trong cuộc, hai người được thông tin, cô Maria và cụ Giacaria xem ra gần giống như nhau. Gần giống thôi.

Ông Da-ca-ri-a thưa với sứ thần: "Dựa vào đâu mà tôi biết được điều ấy? Vì tôi đã già, và nhà tôi cũng đã lớn tuổi." (Lc 1:18 )

Mẹ Ma-ri-a thưa với sứ thần: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng! " (Lc 1:34)

Thật sự, hai câu trả lời khác biệt nhau rất nhiều.

“Dựa vào đâu mà tôi biết được điều ấy – How shall I know this ?” Đây là câu đòi hỏi chứng cớ. Nghĩa là Giacaria không tin lắm vào người thông tin. Cụ cần một bằng chứng đưa ra.

Sứ thần phải xưng danh tánh, và cho cụ một bằng chứng, là một hình phạt : “Tôi là Gáp-ri-en, hằng đứng chầu trước mặt Thiên Chúa, tôi được sai đến nói với ông và loan báo tin mừng ấy cho ông. Và này đây ông sẽ bị câm, không nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra, bởi vì ông đã không tin lời tôi, là những lời sẽ được ứng nghiệm đúng thời đúng buổi." (Lc 1:19-20)

Đã cao niên, lại là tư tế, hẳn cụ phải thuộc lòng Kinh Thánh, hẳn cụ phải thuộc nằm lòng câu chuyện truyền tin cho cụ bà Sara, vợ của cụ tổ Abraham. Chắc gì cụ đã già 99 tuổi bằng cụ tổ Abraham. Chuyện sinh nở lạ lùng trong lúc tuổi già, “lão bạng sinh châu” là chuyện Thiên Chúa từng thực hiện, đã có tiền lệ trong Kinh Thánh rồi. Vậy mà khi bất chợt xảy ra cho cụ, cụ lại lên tiếng đòi một dấu chứng: “Dựa vào đâu...?”

Hóa ra, cụ Giacaria không thuộc Kinh Thánh. Nghĩa là cụ Giacaria nhà ta đã bị câm và điếc từ lâu, không lắng nghe lời Thiên Chúa nói trong Kinh Thánh, nói trong những biến cố đời cụ. Nên khi Thiên Chúa ngỏ lời thông báo cho cụ, cụ không có sẵn đủ niềm tin vào Lời Thiên Chúa toàn năng.

Nên bây giờ, khi bắt cụ bị câm, Thiên Chúa chỉ minh bạch hoá tình trạng câm điếc với Lời Chúa lâu nay của cụ mà thôi.

Xem chừng câm lặng là môt hình phạt nhẹ nhàng nhất trong trường hợp này.


Trường hợp Mẹ Maria khác hẳn, vì chưa hề có bao giờ: sinh con khi còn là trinh nữ. Mẹ bày tỏ ngạc nhiên không hiểu sự việc xảy ra thế nào – “How can this be?” là phải, vì trước giờ trong Cựu Ước, chưa hề có trường hợp nào như thế.

Mẹ chỉ xin biết thêm những điều mình đã được thông báo sẽ diễn tiến như thế nào: “Việc ấy xảy ra cách nào vì tôi không biết đến việc vợ chồng.”

“Fides” của Mẹ “quaerens intelligentiam”. Faith seeking understanding.


b- Thứ hai, về phía sứ thần mà xét, Ngài phải hiểu đúng câu nói của Mẹ Maria là xin cắt nghĩa thêm cho trưòng hợp “trinh nữ thụ thai- vô tiền khoáng hậu” này của mình, nên mới nhẫn nại giải thích, nêu ra ví dụ là trường hợp cụ bà Elizabeth, và kết thúc bằng khẳng định: “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”.

c- Thứ ba, câu ưng thuận của Mẹ “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” cũng mới hợp lẽ, vì trả lời chấp thuận cho một đề nghị lạ lùng, duy nhất trong lịch sử : Làm mẹ trong lúc là trinh nữ. Chứ nếu có con bình thường với chồng thì cần gì phải thưa “Xin Chúa cứ làm!” ?

d- Cuối cùng, khi gặp cụ bà Elizabeth, cụ có ngợi khen Mẹ: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em." thì cũng mới thích đáng. Vì tin vào sự toàn năng Thiên Chúa khiến cho mình làm mẹ khi còn là trinh nữ, bất chấp mọi lý lẽ thông thường, thì mới đáng khen, chứ chuyện có con cái với chồng bình thường thì có gì là đáng phải khen ?


Tóm kết lại chúng ta có thể hiểu cái trình tự, luận lý của thuật trình theo Luca này như sau:

Lucas nhắc lại hai lần rằng Maria là “trinh nữ”, vì chi tiết này cần thiết để hiểu rõ câu chuyện. Khi Mẹ Maria hỏi sứ thần, thì Mẹ hiểu rằng việc Mẹ thụ thai, như được loan báo, sẽ xảy ra ngay tức thời. Và dựa trên hiện trạng mình là trinh nữ, Mẹ hỏi sự ấy xảy ra như thế nào? Sứ thần giải thích rằng tiến trình sự việc này hoàn toàn do Thiên Chúa. Mẹ chấp nhận. Như thế Mẹ tỏ ra rằng Mẹ tin lời Chúa phán cùng Mẹ sẽ được thực hiện, Và khi tự nhận mình là tôi tớ Chúa, Mẹ đứng vào hàng ngũ những phụ nữ được chúc phúc như bà Anna trong 1 Sam chương 1 . Điều ấy được cụ Elisabeth nói lên khi Mẹ đến thăm cụ.

Mà quả là “mẹ nào con nấy”.
Mẹ Maria đã vượt trội hơn cụ Giacaria, thì cứ theo phương pháp song đối sóng đôi - parallel comparison, ta cũng thấy Hài nhi Giêsu hẳn trổi vượt hơn Gioan Tẩy giả nhiều điểm :

Gioan "sẽ nên cao cả trước mặt Chúa - great before the Lord" (1:15), Nhưng Chúa Giêsu "Người sẽ nên cao cả - great." mà không cần ai khác để xác định thêm (1:32);

"Và ngay khi còn trong lòng mẹ,” bé Gioan “đã đầy Thánh Thần” (1:15), Còn trường hợp Chúa Giêsu thì ngay chính việc thụ thai đã là công trình của Chúa Thánh Thần: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà,” (1:35);

Gioan Tẩy giả sẽ "chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa - make ready for the Lord a prepared people" (1:17), còn Chúa Giêsu lại hiện đang “trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”(1:33).


Chúng ta đang kỷ niệm việc Hài Nhi ấy đã tới. Tuần sau, ngày 25 tháng 12.

Nhưng chúng ta đã chuẩn bị chưa cho biến cố Ngài đang lại đến lần thứ hai, mà nhiều dấu chỉ thời đại cho thấy biến cố tái lâm ấy đang tới, cấp kỳ?


________________________________

Ghi chú:

[1] Xem thêm M. Villanueva, "Nueva controversia en torno al voto de virginidad de Nuestra Señora," EstBíb 16 (1957), 307-328; O. Graber, "Wollte Maria eine normale Ehe eingehen?" Marianum 20 (1958 ), 1-9 và "Marias Jungfräulichkeitswille vor der Engelsbotschaft," Marianum 22 (1960), 290-304; M. Zerwick, "'... quoniam virum non cognosco' (Lc 1,34)," VerbDom 37 (1959), 212-224, 276-288; R. Laurentin, Structure et théologie de Luc I-II (Paris: Gabalda, 1957). C. P. Ceroke, "Luke 1,34 and Mary's Virginity," CBQ 19 (1957) 329-342.

[2] Xem thêm Earle Ellis "Mary's question assumes that the prophecy is to be fulfilled immediately in the normal manner of conception" (E. Earle Ellis, The Gospel of Luke [London: Thomas Nelson, 1966], 69). Xem thêm P. Gaechter, J. B. Bauer, C. J. Jellouschek, và D. Haugg (Das erste biblische Marienwort [Stuttgart, 1938 ]).

Nguyễn Đức Khang 63