LỜI NGỎ
GÓC ẢNH
- Trường cũ - Bạn xưa
- Các Giáo Sư
- Chân dung xưa & nay
- Các cuộc hội ngộ
GÓC KÝ ỨC
- Nội San:
Ký ức Sao Biển 1999
Tâm tư Sao Biển 2000
TTSB 2001
TTSB 2002
TTSB 2003
TTSB 2004
TTSB Xuân 2005
TTSB Hè 2005
TTSB 2006
TTSB 2007
- Hội Ngộ Sao Biển 2008
- Vườn Tư Tưởng
- Vườn Kỷ Niệm
- Vườn Thơ
- Vườn Nhạc
- Nghe nhạc Sao Biển
GÓC SUY TƯ
- Suy tư theo mùa Phụng Vụ
- Tản mạn Kinh Thánh
- Chia sẻ
GÓC TIN TỨC
- Tin tức Sao Biển
- Diễn đàn Sao Biển
GÓC NỘI BỘ
- Góp ý & Bài vở
- Sinh hoạt nội bộ
SUY TƯ & CHIA SẺ
Từ trong hoang địa

Mc 1, 1 - 8.

Khởi đầu Tin Mừng Ðức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa: Chiếu theo lời đã chép trong sách ngôn sứ I-sai-a: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con. Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của Ðức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.
Ông Gio-an Tẩy Giả đã xuất hiện trong hoang địa, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội. Mọi người từ khắp miền Giu-đê và thành Giê-ru-sa-lem kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Gio-đan. Ông Gio-an mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng. Ông rao giảng rằng:

"Có Ðấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. Tôi đã làm phép rửa cho anh em nhờ nước; còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần."


“Ông Gioan Tẩy giả đã xuất hiện trong hoang địa”.


Để giới thiệu Chúa Giêsu, Gioan “xuất hiện từ trong hoang địa”. Từ phía bờ bên kia sông Giođan. Đó là vùng hoang địa, vùng sau này Chúa Giêsu sẽ vào đó chịu cám dỗ. Đó cũng là vùng trước đó rất lâu, dân Do thái đã lang thang suốt 40 năm sau khi rời đất nô lệ Ai cập.

Gioan muốn xuất hiện từ sa mạc, có phải để sự xuất hiện và lời loan báo của mình có được “kịch tính”?

Nhà của Gioan không phải ở trong sa mạc. Tin mừng theo Luca nói : “Hồi ấy, bà Maria vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào hỏi bà Êlisabét.” (Lc 1:39)

Có người cho rằng có lẽ từ “Giuđa” bị viết sai, phải chăng đó là thành “Jutta” Vì “Các thành ở cuối phần đất của chi tộc con cái Giu-đa, ở vùng giáp giới Ê-đôm trong miền Ne-ghép, là: ... Maôn, Cácmen, Díp, Giútta, Gítrơen ...”, (Jos 15:55 , 21:16 ) ? vì thành này thuộc vùng đất mà các Tư tế thuộc chi tộc Giuđa cư ngụ.

Nhưng không nhất thiết các thầy Tư tế phải cư ngụ trong thành dành riêng cho mình. Matthathias cư ngụ tại thành Modin, Simon Macchabê cư trú ở giải Gaza...

Theo truyền thuyết có từ thơì thập tự chinh, thì gia đình của Gioan Tẩy giả ở thành Ain-Karim, cách Giêruslem chừng năm dặm về phía Tây Nam.


Chi tiết “người loan báo xuất hiện từ trong hoang địa” này khiến chúng ta nhớ lại lời hứa và chỉ thị liên quan đến biến cố vào xứ Canaan mà Thiên Chúa dặn dò người Do thái trước đó 1200 năm: “Này Ta sai thiên sứ đi trước ngươi, để giữ gìn ngươi khi đi đường, và đưa ngươi vào nơi Ta đã dọn sẵn. Trước mặt người, hãy ý tứ và nghe lời người. Đừng làm cho người phải chịu cay đắng; người sẽ không tha lỗi cho các ngươi, vì danh Ta ngự trong người. Nếu thực sự ngươi nghe lời người, nếu ngươi làm mọi điều Ta nói, Ta sẽ trở thành kẻ thù của kẻ thù ngươi, đối phương của đối phương ngươi.” (Xh 23:20)

Vài trăm năm sau nữa, các ngôn sứ cũng lên tiếng nói về một cuộc lữ hành qua sa mạc về lại cố hương sau thời lưu đày Babylon : “Thiên Chúa anh em phán: "Hãy an ủi, an ủi dân Ta: Hãy ngọt ngào khuyên bảo Giê-ru-sa-lem, và hô lên cho Thành: thời phục dịch của Thành đã mãn, tội của Thành đã đền xong, vì Thành đã bị tay ĐỨC CHÚA giáng phạt gấp hai lần tội phạm." Có tiếng hô: "Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho ĐỨC CHÚA, giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta.” (Is 40:1-3)

Người Do thái không lạ lẫm với hoang địa. Chung quanh họ là sa mạc, là hoang địa. Chỉ cần nhìn qua bên kia bờ sông Giodan, họ thấy ngay hoang địa, trải dài mút tầm mắt. Mỗi ngày khi gió đông nổi lên, sức nóng của hoang địa nhắc họ thực tại: họ thực sự đang sống giữa khắc nghiệt, khô cằn, và vùng đất chết.

Hoang địa còn nhắc cho họ một thực tại. Tôn giáo của người bản địa Canaan thờ thần Mot. Danh xưng vị thần này đồng nghĩa với Tử thần. Thần này cai quản những vùng khô cằn, hoang dã, nóng bức. Đó là vị thần bản xứ cai quản hoang địa.

Và rồi chỉ cần nhớ về lịch sử dân tộc, không ai có thế quên 40 năm lang thang trong hoang địa. Bắt đầu từ Ai cập, xứ sở họ đang sống đời nô lệ, họ kết thúc cuộc lữ hành tại vùng bình nguyên Moab. Từ đó họ vượt sông Giodan vào tiến chiếm Đất Hứa qua ngã Giêricô.


Có hai cám dỗ nặng nề thời họ lang thang như thế.

1-
Cám dỗ thứ nhất là nản lòng bỏ cuộc. Họ nhủ nhau: “Thôi đủ rồi. Dừng tại sa mạc này mà định cư thôi !” Họ đã nhiều lần tạm cư trong hoang mạc như thế. Như tại ốc đảo adesh Barnea, trong lúc chờ các thám tử trở về: “Sau bốn mươi ngày do thám đất, họ trở về. Họ đến gặp ông Mô-sê, ông A-ha-ron và toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en, tại Ca-đê trong sa mạc Pa-ran. Họ báo cáo với hai ông và toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en, và cho những người đó xem hoa trái miền ấy... Toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en đến sa mạc Xin vào tháng giêng, và dân ở lại Ca-đê. Bà Mi-ri-am đã qua đời và được chôn cất tại đây” (Ds 13:26, 20:1)

Thiên Chúa phải nhắc họ không được định cư tại hoang địa, mà phải tiếp tục lên đường: “Mỗi lần mây bốc lên cao khỏi Lều, thì con cái Ít-ra-en nhổ trại, và nơi nào mây đậu lại, thì ở đó con cái Ít-ra-en đóng trại. Cứ lệnh ĐỨC CHÚA mà con cái Ít-ra-en lên đường, và cứ lệnh ĐỨC CHÚA mà họ đóng trại; bao lâu mây đậu lại trên Nhà Tạm, thì họ tiếp tục đóng trại..... Năm thứ hai, tháng hai, ngày hai mươi trong tháng, mây bốc lên khỏi Nhà Tạm Chứng Ước, và từ sa mạc Xi-nai, con cái Ít-ra-en lên đường theo thứ tự. Rồi cột mây đậu lại trong sa mạc Pa-ran. Họ đã lên đường lần đầu tiên theo lệnh ĐỨC CHÚA truyền qua ông Mô-sê.” (Ds 9:17-18; 10:11-13)

Trong sách Đệ nhị Luật, Môsê nhắc lại chi tiết này cho ngươì Do thái: "ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của chúng ta, đã phán với chúng ta tại núi Khô-rếp như sau: "Các ngươi ở núi này đã lâu rồi Hãy chuyển hướng và lên đường, đi tới núi người E-mô-ri, và tới các dân chung quanh, ở thung lũng A-ra-va, ở miền núi, miền Sơ-phê-la, miền Ne-ghép, miền duyên hải, tới đất người Ca-na-an, núi Li-băng, cho đến Sông Cả, là sông Êu-phơ-rát.” (Đnl 1:6-7).

Công đoàn Do thái bị cấm không được định cư quá lâu trong hoang địa.

Chỉ có thể là tạm cư .

Chúng ta được nghe lại lời nhắc nhở lên đường lúc Chúa Giêsu hiển dung trên núi Tabor: “Bấy giờ ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng: "Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a." (Mt 17:4)

Ước ao thì ao ước thế, nhưng các Ngài vẫn phải xuống núi Tabor, để lên Núi Canvê.


2-
Cám dỗ thứ hai có phần nguy hiểm hơn: “Họ nói với ông Mô-sê: "Bên Ai-cập không có đủ mồ chôn hay sao, mà ông lại đưa chúng tôi vào chết trong sa mạc? Ông làm gì chúng tôi vậy, khi ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai-cập? Đó chẳng phải là điều chúng tôi từng nói với ông bên Ai-cập sao? Chúng tôi đã bảo: Cứ để mặc chúng tôi làm nô lệ Ai-cập! Thà làm nô lệ Ai-cập còn hơn chết trong sa mạc! " (Xh 14:11-12)

Họ không những muốn ngưng cuộc lữ hành tiến tới trước, về vùng trời tự do, vùng Đất Hứa, mà tệ hơn, họ muốn quay đầu trở lại vùng đất nô lệ, cam làm thân trâu ngựa.

Điều đáng nói là, cả sau khi chứng kiến những điều lạ lùng, những phép lạ vĩ đại cứu thoát họ khỏi tay quân lính và chiến xa của Pharaô, họ vẫn ngang ngược ao ớc phải chi những chuyện ấy đừng hề xảy ra, để họ quay trở lại Ai cập!

Cám dỗ thứ hai này là cám dỗ thờ nguỵ thần, rất thường xảy ra, và đầy sức lôi cuốn.

Đó là hoài niệm quá khứ. Quá khứ thường mang vẻ quen thuộc hơn, và an ninh hơn.

Dĩ nhiên hoài niệm quá khứ không phải là tội. “Ôn cố” để mà “tri tân” là điều tốt. Nhưng cái cám dỗ nằm ở chỗ, khi hoài niệm, chúng ta bỏ hiện tại mà trở về sống trong quá khứ để tránh đối diện với tương lai.


3-
Hoang địa còn là nơi người Do thái ký kết Giao Ước với Thiên Chúa.

Thiên Chúa có thể dẫn dân Do thái đi thẳng từ Biển Đỏ sang ngay vùng Đất Hứa. Chỉ cần đi dọc bờ biển Địa Trung Hải, ngang qua giải Gaza. Khoảng cách chỉ chừng hai ba ngày đường.
Dĩ nhiên tiến vào chiếm Đất Hứa là mục tiêu tối hậu, nhưng không phải là mục tiêu gần và cấp thiết. Môsê đã tuyên bố điều cấp thiết này cho Pharaô biết: “Ngươi sẽ nói với vua ấy: ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của người Híp-ri, đã sai tôi nói với bệ hạ: Hãy thả dân Ta ra, để chúng đi thờ phượng Ta trong sa mạc.” (Xh 7:16) Dạy cho người Do thái biết thờ phượng Thiên Chúa trong hoang địa mới là điều cấp thiết hơn.



4-
Hoang địa còn là nơi cần thiết để thử thách và trắc nghiệm- temptare, để coi dân Do thái có trung tín với niềm tin của tổ tiên họ vào Thiên Chúa hay không.

Họ không có nước uống ? Chúa cho khe nước chạy ra từ tảng đá : “Họ đã đóng trại ở Rơ-phi-đim, nhưng tại đấy không có nước cho dân uống.Dân gây sự với ông Mô-sê. Họ nói: "Cho chúng tôi nước uống đi! " Ông Mô-sê nói: "Tại sao anh em lại gây sự với tôi? Tại sao lại thử thách ĐỨC CHÚA? " ... ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê: "Ngươi hãy đi lên phía trước dân, đem theo một số kỳ mục Ít-ra-en; cầm lấy cây gậy ngươi đã dùng để đập xuống sông Nin, và đi đi. Còn Ta, Ta sẽ đứng ở đằng kia trước mặt ngươi, trên tảng đá ở núi Khô-rếp. Ngươi sẽ đập vào tảng đá. Từ tảng đá, nước sẽ chảy ra cho dân uống." Ông Mô-sê đã làm như vậy trước mắt các kỳ mục Ít-ra-en. ”(Xh 17:2-7).

Họ không có thức ăn ? “ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê: "Này, Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các ngươi ăn. Dân sẽ ra lượm lấy khẩu phần cho mình, ngày nào cho ngày đó; Ta muốn thử lòng chúng như vậy xem chúng có tuân theo Luật của Ta hay không” Chúa cho mưa manna rơi xuống từ trời (Xh 16:4)

Họ gặp nhiều kẻ thù: người Ai cập, người Amalect: “A-ma-lếch đến đánh Ít-ra-en tại Rơ-phi-đim... Ông Giô-suê đã dùng lưỡi gươm đánh bại A-ma-lếch và dân của ông ta.”(Xh 17:8-15), và nhiều sắc dân khác: “Vua A-rát, người Ca-na-an, cư ngụ tại Ne-ghép, nghe biết Ít-ra-en theo đường A-tha-rim mà tới, thì đã tấn công Ít-ra-en và bắt được một số tù binh... Nhưng vua Xi-khôn không cho Ít-ra-en băng qua bờ cõi của ông, lại còn tập họp toàn dân, ra chặn đường Ít-ra-en trong sa mạc. Tới Gia-hát, ông giao chiến với Ít-ra-en. Ít-ra-en vung kiếm giết họ và chiếm đất từ Ác-nôn cho tới Giáp-bốc, đến tận biên giới con cái Am-mon.... ĐỨC CHÚA phán bảo ông Mô-sê rằng: "Hãy tấn công quân Ma-đi-an và giết chúng đi. Vì chúng đã tấn công các ngươi, và dùng mưu mô quỷ quyệt đối với các ngươi trong vụ Pơ-o và vụ Cót-bi, con gái một thủ lãnh Ma-đi-an, chị em của chúng, kẻ đã bị đâm chết ngày xảy ra tai ương trong vụ Pơ-o.” (Ds 21:1-3; 21-35; 25:16-18 ).

Có cả những xung khắc lãnh đạo giữa Mosê và Aaron : “Bà Mi-ri-am và ông A-ha-ron phản đối ông Mô-sê về người đàn bà xứ Cút mà ông đã lấy, vì ông đã lấy một người đàn bà xứ Cút làm vợ ... Toàn thể cộng đồng lớn tiếng kêu la, dân chúng khóc lóc cả đêm ấy. Tất cả con cái Ít-ra-en đều kêu trách ông Mô-sê và ông A-ha-ron, toàn thể cộng đồng nói với các ông: "Phải chi chúng tôi chết ở bên đất Ai-cập, hoặc phải chi chúng tôi chết trong sa mạc này cho xong! ... Cô-rắc, con ông Gít-ha, cháu ông Cơ-hát thuộc chi tộc Lê-vi, đã lôi kéo những người thuộc chi tộc Rưu-vên, là Đa-than và A-vi-ram, con của ông Ê-li-áp, với Ôn, con ông Pe-lét. Họ nổi lên chống ông Mô-sê, và cùng với họ có hai trăm năm mươi người trong số con cái Ít-ra-en, là những người lãnh đạo cộng đồng, là thành viên hội đồng và là những nhân vật tên tuổi. ” (Ds 12:1-16; 14:1-4; 16:1-35)


5-
Hoang địa còn là nơi Thiên Chúa mạc khải Tên của mình: “Ông Mô-sê thưa với Thiên Chúa: "Bây giờ, con đến gặp con cái Ít-ra-en và nói với họ: Thiên Chúa của cha ông anh em sai tôi đến với anh em. Vậy nếu họ hỏi con: Tên Đấng ấy là gì? Thì con sẽ nói với họ làm sao? " Thiên Chúa phán với ông Mô-sê: "Ta là Đấng Hiện Hữu." Người phán: "Ngươi nói với con cái Ít-ra-en thế này: "Đấng Hiện Hữu sai tôi đến với anh em.” (Xh 3:13-14)

Và mạc khải sự hiện diện thường trực của Thiên Chúa ở giữa họ. Đó là cái Lều Tạm chứa hai bia đá khắc 10 điều luật: Sau này Chúa Giêsu lập lại : “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”( Mt 28:20)


Với một hậu cảnh như thế ,“Ông Gioan Tẩy giả đã xuất hiện trong hoang địa” chỉ để làm hai việc: “rao giảng” và “kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội.”

Ông rao giảng rằng: "Có Ðấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. Tôi đã làm phép rửa cho anh em nhờ nước; còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần."


Chỉ dừng lại ở chi tiết Gioan “xuất hiện trong hoang địa”, bài đọc Tin mừng hàm ngụ một thách đố cho chúng ta : Can đảm bỏ vùng nô lệ, tiến tới trước, trong hoang điạ, củng cố lại cách thờ phượng Thiên Chúa, tái lập Giao Ước với Thiên Chúa, đương đầu với những xung khắc đến từ ngoại lai và từ nội tâm, luôn kiên vững vì Thiên Chúa Hằng Hữu luôn “ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế.”

Nguyễn Đức Khang 63