MAIN MENU
TÂM TƯ SAO BIỂN 2001
- Lời Mở
KÝ ỨC
- Những bước hình thành TCV Sao Biển
- Tiểu Chủng Viện Sao Biển
- Ðại Chủng Viện Sao Biển
- Tôi làm chú nhỏ
- Xem phim chui
- SBC, giai thoại
TÂM TƯ
- Anh ấy, bạn tôi
- Một lần trở về
- Ngôi nhà là để ra đi
- Cần lớn toàn diện bằng "tự giác" rồi "giác tha"
- Ngày chờ sống lại
- Phục Sinh hay chỗi dậy?
- Dị ứng
- Thao thức tình mẹ
THEO GIÒNG
- Một vài con số cần biết
- Những chuyện quanh tôi
- Chuyện hàng xóm
- CSB qua Internet
- Bên ni bên nớ
- Chúa có đổ xí ngầu?
- Chuyện rất ngắn
- Lời Khép
TÂM TƯ SAO BIỂN 2001
Đại Chủng Viện Sao Biển 1975-1979
(trích tập Hồi Ký của Lm. Nguyễn Quang Vinh 62)

Tháng 5/1975, chúng tôi được lệnh bề trên tụ tập về Tiểu Chủng Viện Sao Biển, nay đổi tên là Đại Chủng Viện vì các chú nhỏ không còn học nữa. Thế là bắt đầu một giai đoạn mới trong cuộc đời tu học: giai đoạn xã hội chủ nghĩa.

Chúng tôi có tất cả 29 anh em thần học và 4 triết: Điệp, Tính, Liệu, Nhị, Hoàng, Bút, Cần, Đông, Độ, Ngạn, Sơn, Lành, Hiền, Hiến, Tình, Báu, Lượng, Thanh, Chí, Xuân Phong, Cao Phong, Hứa, Ninh, Vinh, Minh, Thư, Long, Vân. Các cha giáo sư: Nho (giám đốc), Phi, Phong, Ngọc và một số cha bên ngoài vào dạy. Sau này một số anh em chịu chức sớm chỉ còn lại 21 người. Cũng có năm anh em thuộc Phanxicô ra đây học chung. Ban sáng chúng tôi đi lao động, ban chiều học. Có khi ngược lại. Nhiều đêm còn phải đi gác xóm dưới sự điều động của ban an ninh trong khóm Thanh Hải. Cũng có khi toàn chủng viện đi thủy lợi ba ngày trên vùng Đắc Lộc.

Năm đầu, chúng tôi lo chăm sóc ruộng rau muống trên đường quốc lộ ra đèo Rù Rì. Cũng nhờ chủng viện còn giữ được một garage chứa đầy phân urê nên rau muống của chúng tôi rất tốt, thu hoạch nhiều hơn các ruộng khác. Sau này ruộng đó giao cho anh Hoành và bốn thầy triết chăm sóc nên các anh thần học chỉ lo về vườn trong nhà, mấy con heo, khoảng 100 cây dừa lửa và 30 cây dừa xiêm. Cũng may là Chủng viện đất đai rộng nên những gì chúng tôi cần cho nhu cầu hằng ngày đều có sẵn, nhất là rau và củi nấu.

Tôi thì sau này phụ trách việc đi lấy hèm (bã rượu) từ Ba Làng về nuôi heo nên có hai hỗn danh: thầy heo và thầy hèm! Toàn thể giáo dân Ba Làng đã rộng tay để dành cho chủng viện những nồi hèm nóng hổi (tiếc là ăn không được!). Công ơn ấy xin ghi nhận và xin Chúa bù đắp. Đi lấy hèm heo trên chiếc xe ba gác cũ kỹ, một nửa thùng phi để đàng trước, có người phụ đi theo. Lúc đi thì phơi phới vì xe nhẹ. Nhưng sau khi thùng hèm đã đầy thì thật là một đoạn đường thánh giá! Đất Ba Làng đầy cát nên lại càng thêm gian nan. Nhiều khi xe giở chứng, đứt sên, hư thắng, xẹp bánh, ... dọc đường. Ngày mưa cũng như ngày nắng, tôi đã cố gắng trung thành trong nhiệm vụ. Những chiều thứ bảy thì vất vả hơn vì phải lấy thêm một thùng cho Chúa Nhật. Cảm ơn các anh em đã cùng tôi đi trên những quãng đường đầy sỏi đá ra Ba Làng. Tôi còn nhớ một lần bị thùng hèm còn nóng hổi đổ ụp lên đầu vì bánh trước chiếc xe vướng phải một cục đá!

Sau khi qua Mỹ và gặp một vài giáo dân ân nhân ngày xưa cho hèm, tôi đã nói đùa với họ: Hôm nay đến làm lễ chứ không lấy hèm đâu!

Sau này tôi nuôi thêm 3 con bò nên cũng được gọi là thầy bò! Công việc chính là đi cắt cỏ sau khi đã đi lấy hèm về. Có bữa lên tận vùng bệnh viện Bài Phung cắt cỏ, tôi bị một con rắn đuổi chạy trối chết! Một buổi chiều khác, đi lấy hèm về, tìm không thấy con bò cái đâu hết. Hoá ra là nó đã chun vào một bụi chuối, cho ra đời một con bê thật dễ thương.

Nói chung thì anh em thay phiên nhau phụ trách từng phạm vi lao động trong nhà. Cũng có năm tôi lo về vườn rau và vườn cà. Công việc này cũng nặng nhọc không kém vì lo bơm phân heo để bón rau cải mà máy bơm bị trục trặc hoài. Có bữa tôi bị cái vòi nước chứa đầy phân heo xịt vào mặt, báo hại phải chạy ra biển để trút hết ... nợ đời! Nhiều ngày còn phải còng lưng để hái cà, tối đến đi khom khom như người mắc bệnh ... ! Ngày hôm sau còn phải dậy lúc 2 giờ sáng để chở cà qua chợ Đầm bán.

Khoảng 1977, chủng viện có hợp tác với một số hàng xóm và dòng Trinh Vương (Mến Thánh Giá Qui Nhơn) nhận cá nơi Xóm Bóng đem về phơi khô rồi giao lại cho nhà nước để lấy chỉ tiêu mua gạo. Tôi được chỉ định cùng với anh Thanh làm trưởng nhóm. Cái nghề này thật lắm gian lao vì không chỉ phải chịu đựng cái mùi cá thum thủm xông lên đến tận óc mà còn phải thuận với thời tiết nữa. Nhiều bữa vừa phơi cá được một nắng thì cơn mưa rào chợt đến. Đang nghe giảng về Thiên Chúa Ba Ngôi trong lớp mà cũng phải bỏ đó, chạy đôn chạy đáo ra khiêng các giàn cá vào nhà kho kẻo mắc mưa thì thúi hết! Lại còn chuyện đạp xe ba-gác xuống nhận cá đem về. Nước cá chảy tràn lan khắp chân. Cũng may là bãi biển ngay đó nên giải quyết được rất nhiều cái nạn xông mùi chung quanh.

Trong thời gian đầu sau 1975, một số anh em triết từ các giáo xứ về nội trú tại Chủng viện. Tiếc là một năm sau đó, anh em phải về nhà vì không có hộ khẩu. Lâu lâu công an đến đánh thức chúng tôi dậy khoảng 2, 3 giờ sáng để kiểm tra hộ khẩu. Dĩ nhiên mọi người đều có mặt nên không có gì trục trặc.

Bắt đầu từ năm 1976 trở đi, làn sóng vượt biên càng ngày càng ồ ạt nên bầu không khí tại vùng Nha Trang có phần căng thẳng hơn. Tất cả các anh em chúng tôi tuy không nói ra nhưng luôn luôn giữ ý chí trung kiên, quyết ở lại để chờ ...(?)

Đến năm 1978 thì chúng tôi học xong chương trình thần học. Chúng tôi đang đứng trước một hoàn cảnh chưa bao giờ nghĩ tới và cũng không sửa soạn kịp để đối đầu: giai đoạn thứ ba trong chương trình huấn luyện. Giai đoạn này là ở lại trong chủng viện và tự túc: ở lại trong chủng viện vì lý do hộ khẩu; tự túc vì nay đã xong chương trình vừa học vừa lao động. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều về giai đoạn này. Chắc chắc các đấng bề trên cũng đã phải thao thức để làm sao giải quyết vẹn toàn con số 21 anh em đang kẹt tại chủng viện.

Chúng tôi tự phong cho mình là những thầy già bất đắc dĩ. Một số anh em cùng nhau làm nghề quay cước thành giây neo trong tổ hợp ông Sở (+) cùng với vài xơ Trinh Vương. Riêng tôi thì quyết định đi bán cà-rem ở Lương Sơn qua sự chỉ dẫn của anh Nam, người hàng xóm của chủng viện. Anh này có tài ăn nói, làm đủ trò vui, thu hút nhiều trẻ em đến nên bán thành công. Anh ấy nhường cho tôi một phần trong làng Lương Sơn gần trường học.

Mỗi ngày tôi dậy lúc 3 giờ sáng, đạp xe ra hãng, sắp hàng lấy kem, sau đó về trường xem lễ, ăn sáng rồi bắt đầu đạp xe ra đèo, đẩy xe lên đèo, xổ dốc xuống đèo, để đến Lương Sơn bắt đầu một ngày với cái chuông leng keng nơi ghi-đông. Những ngày ấy thật là vất vả. Buổi trưa, sau khi đã bán xong, tôi cũng không dám mua gì để ăn vì phải để dành tiền lời đem về cho mẹ tôi đang chờ ở nhà để mua gạo cho ngày hôm đó. Nhiều bữa bụng đói cũng phải cắn răng chịu. Ngày nào được giáo dân mời ăn trưa thì thật là ... trúng mánh!

Có một lần tôi đánh bạo đổi chỗ bán: qua bên xóm Cồn. Nhưng chả ai thèm mua. May mà tôi dụ được mấy cậu trẻ ở Cồn Giữa, chơi độ bóng chuyền nên ngày hôm đó tiêu thụ hết hai thùng cà-rem. Hú vía! Từ nay xin chừa! Một ngày nọ tôi đạp xe thẳng ra Ninh Hoà bán rồi đi xe đò về. Tính đi tính lại trừ tiền xe rồi thì chẳng lời bao nhiêu!

Buổi chiều tôi đi dạy kèm Pháp văn hoặc dạy Toán ở Nha Trang. Nhiều lúc tôi đánh liều ra Ba Làng mua rượu chở qua phố đưa cho mấy quán cóc để kiếm thêm lời. Dĩ nhiên là rượu lậu. Đã có lần tôi phải khiêng chiếc xe đạp chở hai can rượu, băng qua vùng núi trước dốc nhà Dòng Phanxicô để tránh những người bên ty thương nghiệp đang chờ ở dưới dốc!

Cũng có ngày tôi nghỉ bán cà-rem, phụ anh Thanh xuống bãi biển Hòn Chồng, đục đá san hô đem về bán cho công ty làm vôi kiếm thêm gạo! Cái nghề đục đá san hô này so với nghề đục đá trên núi thật là vất vả trăm phần! Trước hết phải chờ nước xuống khoảng đến đầu gối bất luận ngày đêm, dù là 2 giờ sáng hay 12 giờ trưa. Sau đó lấy xà-beng đục dưới chân để nạy đá lên rồi khiêng bỏ cục đá lên trên tấm ván đang nổi trên mặt nước. Tiếp theo là dìu tấm ván vào bờ, khiêng đá lên gần đường cái để sau này chất lên xe kéo. Nói ra thì ngắn nhưng có làm thì mới biết cái nặng nhọc của việc đục đá dưới nước, nhiều khi trời rét căm căm hay nắng chang chang, cũng phải gồng mình chịu đựng. Cả một xe chở đầy đá nặng khoảng một tấn chỉ đổi được vài ký gạo. Bây giờ ghi lại kinh nghiệm vất vả này, tôi mới chợt nhận ra là mình đã góp phần phá hoại môi sinh tại vùng biển đó!

Khoảng đầu năm 1978 tôi cũng có học qua nghề làm ghế mây nơi thầy Trúc bên Phước Hải cùng với một vài anh em Phanxicô, nhưng cũng không được lâu vì hàng quá ế ẩm. Cũng có lúc tôi làm thư ký cho một hãng mộc gần chùa Phật Học, sát bến xe liên tỉnh bây giờ. Tổng kết lại cho đến ngày ra đi, tôi đã kinh qua khoảng 17 nghề, lớn có, nhỏ có, lâu dài có, ngắn hạn có, hợp pháp cũng như làm chui, như nghề đi bán thuốc lá giả tại Cam Ranh chẳng hạn, hay nghề đi làm phụ thợ mộc và xây cất ngoài Dục Mỹ (1983).

Do nguồn gốc lao động và qua những chuỗi ngày vất vả, khi thì dưới nước, khi thì trên bờ, tôi đã thấm thía được những khổ ải của một đời đầu tắt mặt tối và những lo âu, chán nản, tuyệt vọng, bất mãn của con người lao động. Và tôi đã luôn luôn kính trọng và tìm cách nâng cao giá trị của những người lao động với thành quả do bàn tay, công sức của mình làm ra.

Khoảng tháng 4 năm 1979, một biến cố quan trọng xảy đến cho địa phận nói chung và Sao Biển nói riêng và đã thay đổi toàn diện những gì chúng tôi đang chờ đợi: lệnh tịch thu Chủng Viện vì lý do an ninh quốc phòng do trung ương gởi vào! Tôi không thể diễn tả nỗi phản ứng của những người trong cuộc lên trên những trang giấy này. Cũng may là Đức Cha và các bề trên đã khôn ngoan xin nhà nước cho phép các chủng sinh được đi đến ở các xứ khác nhau để làm mục vụ như là một sự đổi chác. Thế là tôi được chuyển về giáo xứ Chợ Mới. Có lẽ đây là việc của Chúa Quan Phòng sắp sẵn cho tôi vì trong giấy tờ lúc đầu, tôi được chỉ định ra ngoài Vạn Giã. Cùng đi với tôi lên Chợ Mới có cha Phạm Ngọc Phi và anh Võ Cao Phong.

Còn các anh khác thì phân chia ra như sau: Báu (Vạn Giã), Sơn (Ninh Hoà), Chí (Gò Muồng), Thanh (Đại Điền), Hiền (Cây Vông), Độ, Hứa, Ninh, Tình, Long, Minh, Thư, Vân (Hà Dừa), Lượng (Hoà Tân), Xuân Phong (Tân Bình), Ngạn (Hoà Yên), Phú (Đồng Lác), Hiến, Lành (tại gia).

Ngày rời Chủng viện (1/6/1979) tôi rưng rưng nước mắt. Chủng Viện đã mất quá sớm, chỉ tròn có 21 tuổi đời (1958-1979)! Sau này tôi có viết một bài thơ ngắn về buổi hôm đó:

...... Nhưng Mẹ ơi, từ ngày đen tối ấy,
Ngày đàn con phải cất bước ra đi,
Cổng sắt kia cũng đã biết sân si,
Rít lên tiếng đau thương muôn hờn tủi.

Mẹ đứng đó, lặng nhìn đàn con cái
Xếp hành trang trong ngấn lệ dâng tràn,
Khấn nguyện thầm cho chúng mãi yên hàn
Giữa cuộc đời gian truân đầy khổ ải.

Thế là hết những buổi chiều thứ Bảy,
Ngập tràn câu: Kính chào Mẹ, Ave!
Để rồi đây mỗi lúc bóng đêm về,
Mẹ nhớ đến đàn con xa lìa tổ.

Mẹ đứng đó, nguyện cùng Thiên Chúa cả,
Giúp các con giữ mãi mãi tình thân,
Giữa anh em của một Mẹ từ nhân,
Sống xứng đáng là con yêu Sao Biển.

(trích từ bài : Nhớ Mẹ Sao Biển, Hoa Kỳ 1988)

Cánh cổng sắt mà còn biết sân si, biết giận hờn. Tiếng kẽo kẹt của nó không như ngày xưa, vui tươi đón một ngày mới hay thoải mái sau một ngày yên hàn. Nó rít lên sau lưng chúng tôi như nói lời vĩnh biệt. Ngày xưa, khi còn nhỏ, tôi không cảm thấy được nét đẹp của những hàng dừa rợp bóng hay những chùm cây soan (sầu đông) mà chính tay tôi đã góp phần vun tưới. Ngày xưa tôi cũng đã không thấy được vẻ thơ mộng dưới những hàng cây dương liễu thơm mùi biển mặn, che nắng cho chúng tôi, hay những đêm trăng sáng vằng vặc trên bãi biển Chủng Viện.

Chỉ khi ngoái đầu trở lại nhìn lần cuối mới cảm thấy bịn rịn trước dáng vẻ dịu dàng và từ mẫu của ngôi nhà thân yêu Sao Biển. Xin vĩnh biệt!