Đại Chủng Viện Sao Biển 1975-1979 (trích tập Hồi Ký của Lm. Nguyễn Quang Vinh 62)
Tháng 5/1975, chúng tôi được lệnh bề
trên tụ tập về Tiểu Chủng Viện Sao Biển, nay đổi tên là Đại
Chủng Viện vì các chú nhỏ không còn học nữa. Thế là bắt đầu
một giai đoạn mới trong cuộc đời tu học: giai đoạn xã hội
chủ nghĩa.
Chúng tôi có tất cả 29 anh em thần học và
4 triết: Điệp, Tính, Liệu, Nhị, Hoàng, Bút, Cần, Đông, Độ,
Ngạn, Sơn, Lành, Hiền, Hiến, Tình, Báu, Lượng, Thanh, Chí,
Xuân Phong, Cao Phong, Hứa, Ninh, Vinh, Minh, Thư, Long, Vân.
Các cha giáo sư: Nho (giám đốc), Phi, Phong, Ngọc và một số
cha bên ngoài vào dạy. Sau này một số anh em chịu chức sớm
chỉ còn lại 21 người. Cũng có năm anh em thuộc Phanxicô ra
đây học chung. Ban sáng chúng tôi đi lao động, ban chiều học.
Có khi ngược lại. Nhiều đêm còn phải đi gác xóm dưới sự điều
động của ban an ninh trong khóm Thanh Hải. Cũng có khi toàn
chủng viện đi thủy lợi ba ngày trên vùng Đắc Lộc.
Năm đầu, chúng tôi lo chăm sóc ruộng rau
muống trên đường quốc lộ ra đèo Rù Rì. Cũng nhờ chủng viện
còn giữ được một garage chứa đầy phân urê nên rau muống của
chúng tôi rất tốt, thu hoạch nhiều hơn các ruộng khác. Sau
này ruộng đó giao cho anh Hoành và bốn thầy triết chăm sóc
nên các anh thần học chỉ lo về vườn trong nhà, mấy con heo,
khoảng 100 cây dừa lửa và 30 cây dừa xiêm. Cũng may là Chủng
viện đất đai rộng nên những gì chúng tôi cần cho nhu cầu hằng
ngày đều có sẵn, nhất là rau và củi nấu.
Tôi thì sau này phụ trách việc đi lấy hèm
(bã rượu) từ Ba Làng về nuôi heo nên có hai hỗn danh: thầy
heo và thầy hèm! Toàn thể giáo dân Ba Làng đã rộng tay để
dành cho chủng viện những nồi hèm nóng hổi (tiếc là ăn không
được!). Công ơn ấy xin ghi nhận và xin Chúa bù đắp. Đi lấy
hèm heo trên chiếc xe ba gác cũ kỹ, một nửa thùng phi để đàng
trước, có người phụ đi theo. Lúc đi thì phơi phới vì xe nhẹ.
Nhưng sau khi thùng hèm đã đầy thì thật là một đoạn đường
thánh giá! Đất Ba Làng đầy cát nên lại càng thêm gian nan.
Nhiều khi xe giở chứng, đứt sên, hư thắng, xẹp bánh, ... dọc
đường. Ngày mưa cũng như ngày nắng, tôi đã cố gắng trung thành
trong nhiệm vụ. Những chiều thứ bảy thì vất vả hơn vì phải
lấy thêm một thùng cho Chúa Nhật. Cảm ơn các anh em đã cùng
tôi đi trên những quãng đường đầy sỏi đá ra Ba Làng. Tôi còn
nhớ một lần bị thùng hèm còn nóng hổi đổ ụp lên đầu vì bánh
trước chiếc xe vướng phải một cục đá!
Sau khi qua Mỹ và gặp một vài giáo dân ân
nhân ngày xưa cho hèm, tôi đã nói đùa với họ: Hôm nay đến
làm lễ chứ không lấy hèm đâu!
Sau này tôi nuôi thêm 3 con bò nên cũng được
gọi là thầy bò! Công việc chính là đi cắt cỏ sau khi đã đi
lấy hèm về. Có bữa lên tận vùng bệnh viện Bài Phung cắt cỏ,
tôi bị một con rắn đuổi chạy trối chết! Một buổi chiều khác,
đi lấy hèm về, tìm không thấy con bò cái đâu hết. Hoá ra là
nó đã chun vào một bụi chuối, cho ra đời một con bê thật dễ
thương.
Nói chung thì anh em thay phiên nhau phụ
trách từng phạm vi lao động trong nhà. Cũng có năm tôi lo
về vườn rau và vườn cà. Công việc này cũng nặng nhọc không
kém vì lo bơm phân heo để bón rau cải mà máy bơm bị trục trặc
hoài. Có bữa tôi bị cái vòi nước chứa đầy phân heo xịt vào
mặt, báo hại phải chạy ra biển để trút hết ... nợ đời! Nhiều
ngày còn phải còng lưng để hái cà, tối đến đi khom khom như
người mắc bệnh ... ! Ngày hôm sau còn phải dậy lúc 2 giờ sáng
để chở cà qua chợ Đầm bán.
Khoảng 1977, chủng viện có hợp tác với một
số hàng xóm và dòng Trinh Vương (Mến Thánh Giá Qui Nhơn) nhận
cá nơi Xóm Bóng đem về phơi khô rồi giao lại cho nhà nước
để lấy chỉ tiêu mua gạo. Tôi được chỉ định cùng với anh Thanh
làm trưởng nhóm. Cái nghề này thật lắm gian lao vì không chỉ
phải chịu đựng cái mùi cá thum thủm xông lên đến tận óc mà
còn phải thuận với thời tiết nữa. Nhiều bữa vừa phơi cá được
một nắng thì cơn mưa rào chợt đến. Đang nghe giảng về Thiên
Chúa Ba Ngôi trong lớp mà cũng phải bỏ đó, chạy đôn chạy đáo
ra khiêng các giàn cá vào nhà kho kẻo mắc mưa thì thúi hết!
Lại còn chuyện đạp xe ba-gác xuống nhận cá đem về. Nước cá
chảy tràn lan khắp chân. Cũng may là bãi biển ngay đó nên
giải quyết được rất nhiều cái nạn xông mùi chung quanh.
Trong thời gian đầu sau 1975, một số anh
em triết từ các giáo xứ về nội trú tại Chủng viện. Tiếc là
một năm sau đó, anh em phải về nhà vì không có hộ khẩu. Lâu
lâu công an đến đánh thức chúng tôi dậy khoảng 2, 3 giờ sáng
để kiểm tra hộ khẩu. Dĩ nhiên mọi người đều có mặt nên không
có gì trục trặc.
Bắt đầu từ năm 1976 trở đi, làn sóng vượt
biên càng ngày càng ồ ạt nên bầu không khí tại vùng Nha Trang
có phần căng thẳng hơn. Tất cả các anh em chúng tôi tuy không
nói ra nhưng luôn luôn giữ ý chí trung kiên, quyết ở lại để
chờ ...(?)
Đến năm 1978 thì chúng tôi học xong chương
trình thần học. Chúng tôi đang đứng trước một hoàn cảnh chưa
bao giờ nghĩ tới và cũng không sửa soạn kịp để đối đầu: giai
đoạn thứ ba trong chương trình huấn luyện. Giai đoạn này là
ở lại trong chủng viện và tự túc: ở lại trong chủng viện vì
lý do hộ khẩu; tự túc vì nay đã xong chương trình vừa học
vừa lao động. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều về giai đoạn này.
Chắc chắc các đấng bề trên cũng đã phải thao thức để làm sao
giải quyết vẹn toàn con số 21 anh em đang kẹt tại chủng viện.
Chúng tôi tự phong cho mình là những thầy
già bất đắc dĩ. Một số anh em cùng nhau làm nghề quay cước
thành giây neo trong tổ hợp ông Sở (+) cùng với vài xơ Trinh
Vương. Riêng tôi thì quyết định đi bán cà-rem ở Lương Sơn
qua sự chỉ dẫn của anh Nam, người hàng xóm của chủng viện.
Anh này có tài ăn nói, làm đủ trò vui, thu hút nhiều trẻ em
đến nên bán thành công. Anh ấy nhường cho tôi một phần trong
làng Lương Sơn gần trường học.
Mỗi ngày tôi dậy lúc 3 giờ sáng, đạp xe ra
hãng, sắp hàng lấy kem, sau đó về trường xem lễ, ăn sáng rồi
bắt đầu đạp xe ra đèo, đẩy xe lên đèo, xổ dốc xuống đèo, để
đến Lương Sơn bắt đầu một ngày với cái chuông leng keng nơi
ghi-đông. Những ngày ấy thật là vất vả. Buổi trưa, sau khi
đã bán xong, tôi cũng không dám mua gì để ăn vì phải để dành
tiền lời đem về cho mẹ tôi đang chờ ở nhà để mua gạo cho ngày
hôm đó. Nhiều bữa bụng đói cũng phải cắn răng chịu. Ngày nào
được giáo dân mời ăn trưa thì thật là ... trúng mánh!
Có một lần tôi đánh bạo đổi chỗ bán: qua
bên xóm Cồn. Nhưng chả ai thèm mua. May mà tôi dụ được mấy
cậu trẻ ở Cồn Giữa, chơi độ bóng chuyền nên ngày hôm đó tiêu
thụ hết hai thùng cà-rem. Hú vía! Từ nay xin chừa! Một ngày
nọ tôi đạp xe thẳng ra Ninh Hoà bán rồi đi xe đò về. Tính
đi tính lại trừ tiền xe rồi thì chẳng lời bao nhiêu!
Buổi chiều tôi đi dạy kèm Pháp văn hoặc dạy
Toán ở Nha Trang. Nhiều lúc tôi đánh liều ra Ba Làng mua rượu
chở qua phố đưa cho mấy quán cóc để kiếm thêm lời. Dĩ nhiên
là rượu lậu. Đã có lần tôi phải khiêng chiếc xe đạp chở hai
can rượu, băng qua vùng núi trước dốc nhà Dòng Phanxicô để
tránh những người bên ty thương nghiệp đang chờ ở dưới dốc!
Cũng có ngày tôi nghỉ bán cà-rem, phụ anh
Thanh xuống bãi biển Hòn Chồng, đục đá san hô đem về bán cho
công ty làm vôi kiếm thêm gạo! Cái nghề đục đá san hô này
so với nghề đục đá trên núi thật là vất vả trăm phần! Trước
hết phải chờ nước xuống khoảng đến đầu gối bất luận ngày đêm,
dù là 2 giờ sáng hay 12 giờ trưa. Sau đó lấy xà-beng đục dưới
chân để nạy đá lên rồi khiêng bỏ cục đá lên trên tấm ván đang
nổi trên mặt nước. Tiếp theo là dìu tấm ván vào bờ, khiêng
đá lên gần đường cái để sau này chất lên xe kéo. Nói ra thì
ngắn nhưng có làm thì mới biết cái nặng nhọc của việc đục
đá dưới nước, nhiều khi trời rét căm căm hay nắng chang chang,
cũng phải gồng mình chịu đựng. Cả một xe chở đầy đá nặng khoảng
một tấn chỉ đổi được vài ký gạo. Bây giờ ghi lại kinh nghiệm
vất vả này, tôi mới chợt nhận ra là mình đã góp phần phá hoại
môi sinh tại vùng biển đó!
Khoảng đầu năm 1978 tôi cũng có học qua nghề
làm ghế mây nơi thầy Trúc bên Phước Hải cùng với một vài anh
em Phanxicô, nhưng cũng không được lâu vì hàng quá ế ẩm. Cũng
có lúc tôi làm thư ký cho một hãng mộc gần chùa Phật Học,
sát bến xe liên tỉnh bây giờ. Tổng kết lại cho đến ngày ra
đi, tôi đã kinh qua khoảng 17 nghề, lớn có, nhỏ có, lâu dài
có, ngắn hạn có, hợp pháp cũng như làm chui, như nghề đi bán
thuốc lá giả tại Cam Ranh chẳng hạn, hay nghề đi làm phụ thợ
mộc và xây cất ngoài Dục Mỹ (1983).
Do nguồn gốc lao động và qua những chuỗi
ngày vất vả, khi thì dưới nước, khi thì trên bờ, tôi đã thấm
thía được những khổ ải của một đời đầu tắt mặt tối và những
lo âu, chán nản, tuyệt vọng, bất mãn của con người lao động.
Và tôi đã luôn luôn kính trọng và tìm cách nâng cao giá trị
của những người lao động với thành quả do bàn tay, công sức
của mình làm ra.
Khoảng tháng 4 năm 1979, một biến cố quan
trọng xảy đến cho địa phận nói chung và Sao Biển nói riêng
và đã thay đổi toàn diện những gì chúng tôi đang chờ đợi:
lệnh tịch thu Chủng Viện vì lý do an ninh quốc phòng do trung
ương gởi vào! Tôi không thể diễn tả nỗi phản ứng của những
người trong cuộc lên trên những trang giấy này. Cũng may là
Đức Cha và các bề trên đã khôn ngoan xin nhà nước cho phép
các chủng sinh được đi đến ở các xứ khác nhau để làm mục vụ
như là một sự đổi chác. Thế là tôi được chuyển về giáo xứ
Chợ Mới. Có lẽ đây là việc của Chúa Quan Phòng sắp sẵn cho
tôi vì trong giấy tờ lúc đầu, tôi được chỉ định ra ngoài Vạn
Giã. Cùng đi với tôi lên Chợ Mới có cha Phạm Ngọc Phi và anh
Võ Cao Phong.
Còn các anh khác thì phân chia ra như sau:
Báu (Vạn Giã), Sơn (Ninh Hoà), Chí (Gò Muồng), Thanh (Đại
Điền), Hiền (Cây Vông), Độ, Hứa, Ninh, Tình, Long, Minh, Thư,
Vân (Hà Dừa), Lượng (Hoà Tân), Xuân Phong (Tân Bình), Ngạn
(Hoà Yên), Phú (Đồng Lác), Hiến, Lành (tại gia).
Ngày rời Chủng viện (1/6/1979) tôi rưng rưng
nước mắt. Chủng Viện đã mất quá sớm, chỉ tròn có 21 tuổi đời
(1958-1979)! Sau này tôi có viết một bài thơ ngắn về buổi
hôm đó:
...... Nhưng Mẹ ơi, từ ngày đen tối ấy,
Ngày đàn con phải cất bước ra đi,
Cổng sắt kia cũng đã biết sân si,
Rít lên tiếng đau thương muôn hờn tủi.
Mẹ đứng đó, lặng nhìn đàn con cái
Xếp hành trang trong ngấn lệ dâng tràn,
Khấn nguyện thầm cho chúng mãi yên hàn
Giữa cuộc đời gian truân đầy khổ ải.
Thế là hết những buổi chiều thứ Bảy,
Ngập tràn câu: Kính chào Mẹ, Ave!
Để rồi đây mỗi lúc bóng đêm về,
Mẹ nhớ đến đàn con xa lìa tổ.
Mẹ đứng đó, nguyện cùng Thiên Chúa cả,
Giúp các con giữ mãi mãi tình thân,
Giữa anh em của một Mẹ từ nhân,
Sống xứng đáng là con yêu Sao Biển.
(trích từ bài : Nhớ Mẹ Sao Biển, Hoa Kỳ 1988)
Cánh cổng sắt mà còn biết sân
si, biết giận hờn. Tiếng kẽo kẹt của nó không như ngày xưa,
vui tươi đón một ngày mới hay thoải mái sau một ngày yên hàn.
Nó rít lên sau lưng chúng tôi như nói lời vĩnh biệt. Ngày
xưa, khi còn nhỏ, tôi không cảm thấy được nét đẹp của những
hàng dừa rợp bóng hay những chùm cây soan (sầu đông) mà chính
tay tôi đã góp phần vun tưới. Ngày xưa tôi cũng đã không thấy
được vẻ thơ mộng dưới những hàng cây dương liễu thơm mùi biển
mặn, che nắng cho chúng tôi, hay những đêm trăng sáng vằng
vặc trên bãi biển Chủng Viện.
Chỉ khi ngoái đầu trở lại nhìn lần cuối mới
cảm thấy bịn rịn trước dáng vẻ dịu dàng và từ mẫu của ngôi
nhà thân yêu Sao Biển. Xin vĩnh biệt! |